sáng đi tối về, lịch rác treo đúng ngày, giày dép úp vào nhau ngay ngắn ở hiên, cuối tuần tưới cây và gọi mì Ý.

sáng đi tối về, lịch rác treo đúng ngày, giày dép úp vào nhau ngay ngắn ở hiên, cuối tuần tưới cây và gọi mì Ý.

Họ không biết trong nhà tôi có một điều tuyệt đối: mười lăm năm, hai chiếc gối không bao giờ chạm nhau.

Phòng ngủ của chúng tôi không khóa.

      Cửa vẫn mở như cửa bếp, như cửa ban công. Nhưng giường có một đường rãnh vô hình chia đôi, như bờ sông chia hai ruộng lúa.

Đồ dùng nhà bếp

 Đèn đầu giường của anh nghiêng sang phải, bóng tròn trắng. Đèn của tôi thấp, vàng, chụp vải. Những tối mưa, tôi gối đầu bên trái nghe tiếng hạt rơi trên mái tôn.

Anh nằm bên phải, lưng quay vào tường, thở dài nhẹ như rót nước.

Tôi đã quen cách anh treo áo vest thẳng một nếp, cách anh xếp vớ theo cặp, cách anh đặt bàn chải đánh răng nghiêng 45 độ vào cốc. Tôi cũng đã quen nét cười không bao giờ chạm vào khóe mắt anh mỗi khi hàng xóm hỏi: “Bao giờ có cháu cho ông bà bế?”

Anh đỡ lời như người bắt bóng chuyên nghiệp: “Dạ, công ty đang bận dự án lớn.”

Chúng tôi cưới nhau tháng Tám. Người ta vẫn nói tháng Tám mưa ngâu. Đêm tân hôn mưa nhẹ như bụi.

 Sau bữa tiệc, mẹ chồng rút trâm cài tóc cho tôi, bảo: “Con gái là người giữ lửa.” Lửa trong đầu tôi lụi dần như đèn dầu gần cạn. Đêm đó, anh thay ga giường mới, đặt lên đầu giường một cuốn sách tôi thích, nói: “Em mệt rồi, ngủ đi.” Anh kéo chăn lên cho tôi, quay đi. Tôi mím môi. Một tiếng gì đó nhỏ như một cái kim rơi xuống nền gạch rồi biến mất.

Tôi nghĩ, chắc chỉ đêm đầu. Tôi chờ đêm thứ hai, thứ mười, thứ một trăm. Mỗi lần tôi thử dịch người sang, anh lại khẽ lùi ra, không thô bạo, không khó chịu, như một người tránh đá nhô của con đường quen.

Chúng tôi có những ngày tốt. Buổi sáng anh pha cà phê, để cạnh tờ báo gập đúng trang. Anh nhớ ngày giỗ ngoại tôi hơn cả tôi. Mùa dịch, anh chạy xe đi mua thuốc cho cả dãy. Mẹ tôi hay nói: “Chồng con hiền, người hiền là phúc.” Tôi cười méo, phúc của ai?

Đại lý ô tô gần đây

Năm thứ mười, tôi bắt đầu viết bản nháp đơn ly hôn trên máy tính, tên file đặt là “mua_muon.docx”. Tôi xóa đi, viết lại, như người ta giũ tấm khăn ướt không khô. Năm thứ mười ba, tôi đưa bản nháp cho anh, giấy lạnh. Anh đọc, ngẩng lên: “Cho anh thời gian.” Tôi hỏi: “Bao lâu là ‘thời gian’?” Anh nhìn vào móc treo áo: “Qua mùa này.”

Mùa nào? Mùa mưa? Mùa hoa sữa? Mùa người ta hết chờ?

Tôi thử nhiều cách: giận hờn, nói chuyện thẳng, đi tư vấn hôn nhân. Nhà trị liệu hỏi anh: “Anh có vấn đề về ham muốn?” Anh lắc đầu. “Về định hướng?” Anh lắc. “Về chấn thương?” Anh im. Đôi khi, giữa một bữa tối cạn lời, tôi bỗng muốn đập vỡ cái đĩa trắng giữa bàn, để nghe tiếng vỡ còn rõ hơn tiếng im.

Mười lăm năm. Tôi bắt đầu đếm thời gian bằng số ga giường đã giặt, số lần chúng tôi ngủ lệch, số lần tôi viết rồi xóa chữ “ly hôn”. Tôi thôi khóc. Nước mắt lãng phí như nước rửa bát chảy mãi mà đĩa vẫn trơn dầu.

Ngày hôm đó tôi về sớm vì cuộc họp bị hủy. Mưa ập xuống thành phố đột ngột như ai đó mở vòi. Tôi vừa mở cửa, tiếng nhạc chuông trong nhà ngắt, tiếng anh lọt ra từ phòng làm việc: “Alo, Lâm à?”

Lâm – bạn thân của anh, người mà tôi vẫn gọi là “người thứ ba không đứng giữa”. Họ chơi với nhau từ phổ thông. Những chiều thứ Bảy, anh đi uống bia với Lâm, về muộn, mùi rượu phảng phất nhưng mắt trong. Tôi không bao giờ ghen với Lâm. Cho đến hôm đó…………….

đợi phần 2 ra tiếp.